Skip to content
Increase font size Decrease font size Default font size blue color orange color green color

Bệnh Viện Phụ Sản - Nhi Đà Nẵng

HƯỚNG DẪN TẠM THỜI CỦA LIÊN ĐOÀN SẢN PHỤ KHOA QUỐC TẾ (FIGO) VÀ CÁC HIỆP HỘI QUỐC TẾ VỀ ĐIỀU TRỊ THAI PHỤ NHIỄM COVID-19 PDF. In Email
Thứ tư, 09 Tháng 9 2020 01:34

ƯỚNG DẪN TẠM THỜI CỦA LIÊN ĐOÀN SẢN  PHỤ KHOA QUỐC TẾ (FIGO) VÀ CÁC HIỆP HỘI QUỐC TẾ VỀ ĐIỀU TRỊ THAI PHỤ NHIỄM COVID-19

Người dịch: BS Đào Quốc Việt, BS Huỳnh Minh Nhật

Hiệu đính: TS.BS Phạm Chí Kông

1. MỤC TIÊU

FIGO đã đưa ra hướng dẫn chăm sóc phụ nữ mang thai bao gồm 4 mục chính (1) Khám ngoại trú tiền sản, (2) Phân nhóm bệnh lý sản khoa, (3) Chăm sóc trong chuyển dạ, VÀ (4) Chăm sóc hậu sản và sơ sinh. Ngoài ra, FIGO cũng đưa ra hướng dẫn điều trị nội khoa những thai phụ nhiễm COVID 19.

Các khuyến nghị này nên được xem xét và điều chỉnh theo từng trung tâm y tế theo hướng dẫn của địa phương dựa trên nguồn lực và nhu cầu. Hơn nữa, các khuyến cáo này không nhằm thay thế những hướng dẫn trước đây về đánh giá và quản lý phụ nữ mang thai tếp xúc với SARS COVID – 2.

2. TỔNG QUAN

Ngày 11/3, Tổ chức Y tế Thế giới đã chính thức tuyên bố sự bùng phát của dịch viêm đường hô hấp cấp (COVID-19) do chủng mới của virus Corona (SARS-CoV-2) gây ra là đại dịch toàn cầu. Coronavirus là virus có vỏ, không phân mảnh, hệ gen RNA sợi đơn chiều dương, thuộc họ Coronaviridae, bộ Nidovirales.

Trong hai đại dịch gồm Hội chứng hô hấp cấp nặng do coronavirus (severe acute respiratory syndrome Coronavirus-SARS-CoV) và Hội chứng viêm đường hô hấp vùng Trung Đông do coronavirus (Middle East respiratory syndrome coronavirus -MERS-CoV),  có hơn 10.000 trường hợp nhiễm trong 2 thập niên qua, với tỷ lệ tử vong 10% cho SARS-CoV và 37% cho MERSCoV. COVID-19 cũng thuộc dưới nhóm β-coronavirus với hệ gen giống đến 80% so với virus trong dịch SARSCoV và 50% so với MERS-CoV.

SARS-CoV-2 lây qua giọt bắn đường hô hấp và tiếp xúc trực tiếp với chất lỏng từ bệnh nhân mắc bệnh như mắt, mũi, miệng, vết thương hở hoặc vết trợt da. Viris SARS-CoV-2 có khả năng tồn tại 72 giờ trên nhựa hoặc thép không gỉ, 24 giờ trên bề mặt bằng chất liệu đồng hoặc bìa cứng.

Trong báo cáo của ban hợp tác WHO-Trung Quốc về bệnh Coronavirus 2019 (COVID-19) ước tính Hệ số lây nhiễm cơ bản R0 là 2-2,5. Theo WHO ngày 3 tháng 3 năm 2020, tỷ lệ tỷ vong toàn cầu do COVID-19 là 3,4%, tuy nhiên, khi có những số liệu tổng hợp các ca bệnh mắc bệnh phát hiện trễ do khởi bệnh muộn hoặc không triệu chứng, tỷ lệ này đã được hiệu chỉnh lại thấp hơn ở mức 1,4%.

Mục tiêu trong chăm sóc bệnh nhân COVID-19 là điều trị hỗ trợ. Các nghiên cứu gần đây đã cho thấy lợi ích của hydroxychloroquine và azithromycin, trong khi đó, sự kết hợp của lopinavir và ritonavir không có hiệu quả ở những bệnh nhân COVID-19 nặng (bệnh nhân là người lớn). Tuy nhiên, cần có những nghiên cứu lớn hơn để khẳng định.

2.1. COVID-19 và thai kỳ

Mang thai là tình trạng sinh lý của cơ thể khiến người phụ nữ đễ nhiễm virus đường hô hấp. Những thay đổi sinh lý trong hệ miễn dịch, hô hấp, tim mạch khiến phụ nữ mang thai có nhiều khả năng sẽ trở nặng sau khi nhiễm virus đường hô hấp. Năm 2009, phụ nữ có thai chiếm 1% số bệnh nhân nhiễm cúm H1N1, nhưng lại chiếm đến 5% trường hợp tử vong. Ngoài ra, SARS-CoV và MERS-CoV đã gây ra các biến chứng nghiêm trọng trong thai kỳ, cần can thiệp đặt nội khí quản, chăm sóc tại khu hồi sức (ICU), suy thận và tử vong. Tỷ lệ tử vong trong trường hợp SARS-CoV ở phụ nữ mang thai lên đến 25%. Tuy nhiên, hiện tại chưa có bằng chứng cho thấy mang thai dễ mắc COVID-19 hoặc khi đã nhiễm sẽ có biến chứng viêm phổi nặng.

Các biểu hiện lâm sàng rất thay đổi trên sản phụ (ví dụ có thể chỉ là giảm bạch cầu lympho). Dựa trên phân tích 56 sản phụ được chẩn đoán COVID-19 trong ba tháng giữa và 3 tháng cuối thai kỳ cho thấy, triệu chứng phổ biến nhất là sốt và ho, 2/3 trường hợp giảm bạch cầu lympho và tăng protein phản ứng C (CRP), 83% trường hợp được chụp CT có đám mờ ở phổi.

Những tác động của COVID-19 trên thai nhi và trẻ sơ sinh vẫn chưa rõ ràng, do đó, cần phải chú ý đặc biệt đến việc dự phòng, chẩn đoán và điều trị ở thai phụ. 

Sốt là triệu chứng thường gặp ở bệnh nhân nhiễm COVD-19. Các dữ liệu trước đây cho thấy rằng mẹ sốt trong giai đoạn sớm của thai kỳ có thể gây ra các bất thường ống thần kinh, tim, thận và các cơ quan khác. Tuy nhiên, trong một nghiên cứu gần đây trên 80.321 phụ nữ mang thai, tỷ lệ sốt giai đoạn đầu thai kỳ là 10%, trong khi tỷ lệ dị tật thai chỉ 3,7%. Một nghiên cứu khác gồm 77.344 thai phụ ở tuổi thai 16-29 tuần cho thấy nguy cơ dị tật thai nhi ở nhóm thai phụ có nhiệt độ trên 380C kéo dài 1-4 ngày trong đầu thai kỳ không tăng (OR 0,99  95% CI  0,88–1,12) so với nhóm thai phụ không bị sốt trong giai đoạn sớm của thai kỳ.

Các báo cáo cho thấy viêm phổi do virus ở phụ nữ mang thai liên quan đến tăng nguy cơ sinh non, thai chậm tăng trưởng, sơ sinh nhẹ cân, Apgar <7 điểm ở phút thứ 5 và tử vong chu sinh. 

Trong nghiên cứu của Chen và cộng sự liên quan đến kết cục trên trẻ sơ sinh ở thai phụ viêm phổi COVID-19, tất cả 9 ca sinh sống đều có Apgar 1 phút 8-9 điểm, 5 phút là 9-10 điểm. Nước ối, máu cuống rốn và mẫu dịch hầu họng sơ sinh có kết quả SARS-CoV-2 âm tính. Điều này cho thấy không có bằng chứng về sự lây truyền dọc từ mẹ sang con vào cuối thai kỳ. Hai trường hợp nhiễm SARS-CoV-2 được báo cáo nhưng cả hai rất có thể là kết quả lây truyền sau sinh. Một nghiên cứu khác phân tích 38 trường hợp mang thai mắc COVID-19, không có trường hợp lây truyền dọc từ mẹ sang con, tương tự như các trường hợp trước đây của dịch SARS-CoV và MERS-CoV. Mặc dù điều này khiến cộng đồng yên tâm, nhưng cũng cần có các dữ liệu lớn hơn để chắc chắn loại trừ sự lây truyền dọc này.

2.2. Bệnh lý nền trong thai kỳ và nhiễm COVID-19

Theo ghi nhận của Yang và cộng sự, nguy cơ nhiễm trùng và biến chứng nặng sẽ tăng lên ở nhóm bệnh nhân COVID-19 già hoặc có bệnh lý nền (đặc bệt là đái tháo đường và cao huyết áp). Vì vậy, cần phải tầm soát kỹ đái tháo đường và tăng huyết áp ở phụ nữ mang thai. Tuy nhiên, hiện tại chưa có bằng chứng nghiên cứu nào cho thấy nguy cơ mắc COVID-19 sẽ cao hơn ở phụ nữ có thai mắc đái tháo đường hoặc tăng huyết áp. Nhưng khi dựa trên những chứng cứ ở nhóm phụ nữ không mang thai, có thể suy luận rằng nguy cơ mắc sẽ cao hơn ở nhóm phụ nữ có thai mắc đái tháo đường. Nguy cơ cao nhiễm SARS-CoV-2 ở thai phụ có tăng đường huyết có thể do nguy cơ phơi nhiễm cao vì phải đến phòng khám thường xuyên hơn để theo dõi mức đường máu. Các stress, lo lắng và mức corticosteroids cao làm giảm khả năng kiểm soát đường huyết và tăng nguy cơ nhiễm trùng thứ phát. Tương tự, tăng huyết áp bản chất hoặc tăng huyết áp thai kỳ có nguy cơ cao tiềm ẩn tiền sản giật và các biến chứng khác. Một thống kê cho thấy, 1/7 trường hợp tăng đường huyết và 1/10 trường hợp tăng huyết áp sẽ để lại kết cục xấu trong thai kỳ. Từ đó, quy trình quản lý lâm sàng phải tuân theo các phác đồ đã được xây dựng bao gồm sàng lọc tiền sản giật và dự phòng bằng aspirin ở các thai phụ có nguy cơ. Đối với các thai phụ có tang đường huyết, cần điều trị bằng insulin. 

3. CHẨN ĐOÁN VÀ PHÂN LOẠI LÂM SÀNG 

Định nghĩa ca mắc dựa trên hướng dẫn tạm thời của WHO về “Giám soát toàn cầu đối với COVID-19”.

3.1. Trường hợp nghi ngờ 

(A) Một bệnh nhân có bệnh lý hô hấp cấp: sốt và ít nhất 1 trong các triệu chứng của bệnh hô hấp (ho, khó thở) VÀ không lý giải được bằng căn nguyên khác VÀ có lịch trình đến hoặc cư trú tại vùng dịch tễ (quốc gia, vùng lãnh thổ hoặc khu vực) trong 14 ngày trước khi khởi phát triệu chứng. HOẶC

(B) Một bênh nhân mắc bất kỳ bệnh hô hấp cấp tính nào VÀ đã từng tiếp xúc với trường hợp bệnh nghi ngờ hay xác định COVID-19 trong vòng 14 ngày trước khi khởi phát triệu chứng. HOẶC

(C) Một bệnh nhân nhiễm trùng hô hấp cấp nặng (sốt và ít nhất một dấu hiệu đi kèm của bệnh lý hô hấp:ho, khó thở VÀ cần nhập viện VÀ không lý giải được bằng căn nguyên khác.

3.2. Trường hợp có thể mắc

Một trường hợp có xét nghiệm COVID-19 nghi ngờ.

3.3. Trường hợp bệnh xác định

Một người có kết quả xét nghiệm dương tính với SARS-CoV-2, bất kể có triệu chứng hay không.

Nên xét nghiệm cho các trường hợp nghi ngờ nhiễm SARS-CoV-2 bằng xét nghệm phân tử, như qRT-PCR. Các mẫu bệnh phẩm đường hô hấp dưới có giá trị chẩn đoán cao hơn đường hô hấp trên. WHO khuyến cáo, nếu có thể, nên lấy tại đường hô hấp dưới như đờm, dịch hút nội khí quả hoặc dịch rửa phế quản. Nếu bệnh nhân không có các triệu chứng của bệnh đường hô hấp dưới, hoặc không thể lấy bệnh phẩm ở vị trí này thì có thể lấy bệnh phẩm ở đường hô hấp trên như dịch mũi và hầu họng. Nếu xét nghiệm ban đầu âm tính ở bệnh nhân có nguy cơ cao, nên xét nghiệm lại với khoảng cách ít nhất 1 ngày và cần lấy nhiều vị trí như mũi, dịch hút nội khí quản. Ngoài ra, có thể lấy các mẫu bệnh phẩm khác máu, nước tiểu và phân để xem xét theo dõi sự hiện hiện diện cũng như phát tán virus. Nếu kết quả hai lần xét nghiệm liên tiếp âm tính, có thể loại trừ nhiễm COVID-19.

Định nghĩa tiếp xúc: bao gồm bất kỳ trường hợp nào sau đây

1. Cung cấp dịch vụ chăm sóc trực tiếp cho bệnh nhân COVID-19 mà không sử dụng thiết bị bảo hộ cá nhân đúng cách (PPE)

2. Ở trong môi trường gần với bệnh nhân COVID-19 (nơi làm việc, lớp học, gia đình, tham gia trong một nhóm)

3. Di chuyển trong phạm vi gần (trong vòng 2 mét) với bệnh nhân COVID-19 với bất cứ phương tiên nào.

Để đảm bảo cho việc tiếp cận với dịch vụ chăm sóc đặc biệt, tất cả các sản phụ có triệu chứng phải được xét nghiệm.

WHO đã có các hướng dẫn về việc sử dụng hợp lý đồ bảo hộ cá nhân trong các trường hợp cụ thể. Khi tiến hành kỹ thuật thông khí cho bệnh nhân (như: đặt nội khí quản, thông khí xâm lấn, hồi sức tim phổi, thông khí bằng tay trước khi đặt nội khí quản) nhân viên y tế nên sử dụng khẩu trang (N95, FFP2 hoặc tiêu chuẩn tương đương) và PPE. Ngoài ra, Trung tâm Kiểm soát bệnh tật xem các thủ thuật có thể gây ho (lấy đờm, hút dịch, ngoáy mũi họng, thở khí dung) như là các kỹ thuật thông khí và cần phải sử dụng chính xác các đồ bảo hộ cá nhân.

4. CHỤP TIA X NGỰC TRONG THAI KỲ

Chụp XQ ngực, đặc biệt là chụp cắt lớp vi tính (CT), là điều cần thiết để đánh giá tình trạng lâm sàng một phụ nữ mang thai nhiễm COVID-19. Thai chậm tăng trưởng, tật đầu nhỏ, khiếm khuyết trí tuệ là các biến chứng phổ biến nhất do phơi nhiễm với bức xạ liều cao (>610 mGy). Theo dữ liệu từ Hiệp hội chẩn đoán hình ảnh Hoa Kỳ và Hiệp hội Sản phụ khoa Hoa Kỳ, liều bức xạ cho thai nhi trong một lần chụp X-quang ngực và CT ngực ở thai phụ lần lượt là 0,0005–0,01 mGy và 0,01–0,66 mGy, được xem là không đáng kể đối với thai nhi.

CT ngực có độ nhạy cao trong chẩn đoán COVID-19. Đối với thai phụ nghi ngờ nhiễm COVID-19, có thể xem CT ngực là phương tiện đầu tiên để phát hiện COVID-19 ở vùng có dịch. Cần có sự đồng thuận với bệnh nhân và che chắn bức xạ vùng tử cung. 

5. ĐIỀU TRỊ SẢN PHỤ NGHI NGỜ HOẶC MẮC COVID-19

5.1. Địa điểm

Các trường hợp nghi ngờ, có thể hoặc đã khẳng định mắc COVID-19 nên được quản lý ở bệnh viện với đầy đủ phương tiện cách ly và bảo hộ. Các trường hợp nghi ngờ, có thể mắc nên được điều trị ở khu cách ly. Các trường hợp đã xác nhận phải được điều trị trong phòng áp lực âm. Các trường hợp được xác nhận là bị bệnh nặng nên được đưa vào phòng cách ly áp suất âm trong ICU. Tất cả các nhân viên y tế tham gia điều trị phải sử dụng PPE thích hợp (khẩu trang đạt chuẩn, kính bảo hộ, tấm chắn bảo vệ mặt, áo choàng phẫu thuật chống nước, găng tay).

Nhưng khi bùng phát dịch, các trang bị y tế không đáp ứng đủ những yêu cầu trên, phụ nữ mang thai mắc COVID-19 có biểu hiện lâm sàng nhẹ có thể theo dõi tại nhà dưới sự giám sát của gia đình nhưng phải cách ly không để lây cho gia đình. Tại bệnh viện, nếu phòng áp lực âm không có sẵn, bệnh nhân nên được cách ly trong phòng đơn hoặc theo nhóm.

Khi chuyển bệnh, nhân viên y tế phải có trang bị PPE và giữ khoảng cách giữa bệnh nhân và những người không có đồ bảo hộ tối thiểu 2m.

5.2. Điều trị trường hợp nghi ngờ/có thể nhiễm

- Điều trị chung: duy trì cân bằng dịch và điện giải; điều trị triệu chứng, (như thuốc hạ sốt, chống tiêu chảy). Trong khi các tài liệu y tế đã nêu ra những lo ngại về nguy cơ có thể xảy ra làm trầm trọng thêm tải lượng vi rút khi sử dụng ibuprofen, nhưng WHO chưa có khuyến cáo chống chỉ định.

- Theo dõi sản phụ: giám sát chặt chẽ các dấu hiệu sinh tồn và độ bão hòa oxy để giảm thiểu tình trạng thiếu oxy ở mẹ; chụp X-quang ngực khi có chỉ định. Thường xuyên đánh giá công thức máu, chức năng gan thận và đông cầm máu.

- Theo dõi thai: đo CTG. Tất cả thời điểm thăm khám nên được hoãn lại 14 ngày, đến khi có kết quả xét nghiêm dương tính hoặc hai lần âm tính liên tiếp.

5.3. Điều trị cho trường hợp nhiễm

5.3.1. Trường hợp nhẹ

- Duy trì cân bằng nước điện giải, điều trị triệu chứng.

- Hiện tại không có phương pháp kháng virus nào được chứng minh có hiệu quả với COVID-19 (mặc dù các thuốc này đang được nghiên cứu trên bệnh nhân nặng). Nếu xem xét điều trị kháng virus, bệnh nhân nên được tư vấn kỹ về tác dụng phụ (nhất là nguy cơ thai chậm tăng trưởng).

- Theo dõi các dấu hiệu nhiễm trùng (cấy máu, nước tiểu), sử dụng kháng sinh kịp thời khi có bằng chứng nhiễm trùng thứ phát.

- Theo dõi CTG khi tuổi thai >28 tuần.

5.3.2. Trường hợp nặng và nguy kịch

- Mức độ viêm phổi COVID-19 được xác định theo HƯớng dẫn chẩn đoán viêm phổi măc phải cộng đồng của Hiệp hội bệnh truyền nhiễm Hoa Kỳ và Hiệp hội lồng ngực Hoa Kỳ.

- Viêm phổi nặng có liên quan đến tỷ lệ tử vong mẹ và chu sinh cao, vì vậy, cần phải điều trị tích cực. Tất cả bệnh nhân nên được điều trị trong phòng cách ly áp lực âm tại ICU, với sự tham gia của đội ngũ đa chuyên khoa (bác sỹ sản khoa, bác sỹ y học bào thai, bác sỹ hồi sức bác sỹ gây mê sản khoa, bác sỹ nội khoa hoặc hô hấp, nữ hộ sinh, bác sỹ vi sinh, bác sỹ sơ sinh, bác sỹ chuyên khoa truyền nhiễm).

- Điều trị kháng sinh khi có nghi ngờ nhiễm trùng thứ phát.

- Theo dõi huyết áp và cân bằng dịch vào ra.

- Liệu pháp oxy: phải duy trì độ bão hòa >95%, bác sĩ gây mê sẽ lựa chọn phương pháp thông khí.

- Liệu pháp chống đông: dựa vào đặc điểm bệnh học như các vùng xuất huyết lớn và các vi huyết khối trong mạch máu ở phổi và gan trên bệnh nhân COVID-19 tử vong từ một trung tâm tại Lombardy, Ý (dữ liệu chưa được công bố), có thể xem xét sử dụng heparin trọng lượng phân tử thấp trong các trường hợp nặng. Tuy nhiên hệu quả trong điều trị viêm phổi nặng cần phải nghiên cứu thêm trước khi đưa vào chính thức.

- Theo dõi thai: đo CTG khi thai >28 tuần.

- Chấm dứt thai kỳ ở tuổi thai non tháng nên được xem xét tùy trường hợp cụ thể. Đối với sản phụ nặng khi thai <32 tuần, nên được chuyển đến trung tâm có ICU sơ sinh chuyên sâu.

6. CHĂM SÓC TIỀN SẢN TẠI PHÒNG KHÁM NGOẠI TRÚ (LƯU ĐỒ 1)

Cần đặc biệt chú ý đến những sản phụ có bệnh kèm như tăng huyết áp, tăng đường huyết, và phải tuân thủ theo phác đồ điều trị hiện có. Riêng đối với thai phụ viêm phổi COVID-19 có tăng đường huyết, nên phải chuyển sang điều trị insulin.

Cần có một số biện pháp phòng ngừa lây nhiễm giữa sản phụ và nhân viên y tế cũng như các bệnh nhân khác trong bệnh viện. Có thể giảm bớt số lần khám thai ở những sản phụ có thai kỳ nguy cơ thấp, thay vào đó sẽ thăm bệnh qua điện thoại. Khuyến cáo tự kiểm tra huyết áp tại nhà nếu có thể.

Lịch khám điều chỉnh được minh họa trong Lưu đồ 1 (hình 1). Cần liên hệ trước với thai phụ để yêu cầu họ đi khám một mình, và sàng lọc các triệu chứng cũng như yếu tố dịch tễ liên quan COVID-19. Trong trường hợp sàng lọc dương tính, nên dời lịch khám 14 ngày ngoại trừ có lý do khản cấp về mẹ và/hoặc thai.

Nên khám sàng lọc cho tất cả thai phụ ngay tại lối vào khu khám và đảm bảo bệnh nhân được ưu tiên để giảm thiểu thời gian ở khu vực chờ. Ngoài việc khám sản khoa thường quy, ở các trường hợp tầm soát dương tính, nên đánh giá các triệu chứng cũng như mức độ trầm trọng và xét nghiệm COVID-19 dựa trên phác đồ của địa phương. Hướng dẫn thai phụ theo dõi các triệu chứng và các dấu hiệu cần nhập viện để điều trị. 

Hiện tại, mặc dù không có bằng chứng nhiễm COVID-19 có liên quan đến biến chứng thai nhi hoặc nhau thai, nhưng nên theo dõi thai nhi chặt chẽ hơn đối với những thai phụ mắc COVID-19 với siêu âm mỗi tháng để đánh giá mức độ phát triển thai, nước ối và hình thái (phác đồ 1). Các nghiên cứu trước đây cho thấy không có bằng chứng nhiễm trùng bẩm sinh với SARS-CoV và các dữ liệu hiện nay không xác định được nguy cơ dị tật bẩm sinh khi nhiễm COVID-19 trong tam cá nguyệt thứ nhất và thứ hai của thai kỳ. Tuy nhiên, cần chỉ định khảo sát hình thái chi tiết ở tuần thai 18-23 đối với các thai phụ nhiễm COVID-19

Lưu đồ 1: Chăm sóc tiền sản bệnh nhân ngoại trú


Đề xuất điều chỉnh lịch khám thai cho các trường hợp thai nghén nguy cơ thấp (để giảm phơi nhiễm, giảm tải công việc trong trường hợp thiếu nhân lực y tế)


7. ĐÁNH GIÁ VÀ PHÂN LOẠI BỆNH NHÂN TẠI PHÒNG KHÁM SẢN KHOA (LƯU ĐỒ 02)

Nên sàng lọc các triệu chứng hoặc yếu tố phơi nhiễm với COVID-19 đối với các thai phụ đến khoa sản hoặc khoa cấp cứu vì lý do hô hấp hoặc sản khoa. Trong trường hợp sàng lọc dương tính, yêu cầu thai phụ đeo khẩu trang và nhân viên y tế cần thực hiện các biện pháp dự phòng lây nhiễm cần thiết. Bệnh nhân nên được thăm khám và đánh giá trong phòng cách ly hoặc phòng riêng. Đánh giá các triệu chứng, ghi nhận dấu hiệu sinh tồn và xem xét thực hiện xét nghiệm SARS- CoV- 2 dựa trên các tiêu chuẩn y tế địa phương. Việc đánh giá cũng nên bao gồm ghi nhận các bệnh nền và các yếu tố nguy cơ nhiễm COVID-19 mức độ nặng. 

Bệnh nhân có các triệu chứng nhẹ và không có yếu tố nguy cơ mắc bệnh nặng có thể được xuất viện về nhà sau khi được tư vấn theo dõi các triệu chứng và hướng dẫn đến cơ sở y tế trong trường hợp các triệu chứng xấu đi (Hình 2: Lưu đồ 2).

Bệnh nhân mắc bệnh mức độ trung bình hoặc những người có bệnh lý kèm hoặc các yếu tố nguy cơ khác của nhiễm COVID-19 mức độ nặng (xem lưu đồ 2) nên được đánh giá chi tiết bao gồm thăm khám thực thể, xét nghiệm và chụp X quang phổi theo chỉ định. Các quyết định liên quan đến việc điều trị nên được cá thể hóa dựa trên các triệu chứng, yếu tố nguy cơ và kết quả thăm khám.

Bệnh nhân có các triệu chứng nặng (xem Lưu đồ 2) nên được đánh giá chi tiết bởi một nhóm  đa chuyên khoa bao gồm bác sỹ sản khoa, bác sỹ chẩn đoán trước sinh, bác sỹ hồi sức, bác sỹ gây mê sản khoa, bác sỹ nội khoa hoặc bác sỹ hô hấp, nữ hộ sinh, bác sỹ vi sinh, bác sỹ sơ sinh và bác sỹ chuyên khoa truyền nhiễm.



8. XỬ TRÍ TRONG CHUYỂN DẠ ĐỐI VỚI THAI PHỤ NGHI NGỜ HAY NHIỄM COVID-19 (LƯU ĐỒ 3)

- Nhiễm COVID-19 không phải là một chỉ định để chấm dứt thai kỳ, trừ khi có nhu cầu cải thiện oxy cho mẹ. Đối với các trường hợp nghi nhiễm / có khả năng nhiễm/ đã xác nhận nhiễm COVID-19, tốt nhất nên tiến hành sinh trong phòng cách ly áp lực âm. Đối với những bệnh nhân nghi nhiễm / có khả năng nhiễm/ đã xác nhận nhiễm COVID-19, không nên cho phép người nhà vào phòng sinh để giảm nguy cơ phơi nhiễm. Số lượng nhân viên chăm sóc bệnh nhân càng ít càng tốt.

- Thời điểm và phương thức sinh cần được cá nhân hóa, phụ thuộc chủ yếu vào tình trạng lâm sàng của bệnh nhân, tuổi thai và tình trạng thai nhi. Sinh thường không chống chỉ định ở những bệnh nhân nghi nhiễm / có khả năng nhiễm/ đã xác nhận nhiễm COVID-19. Có thể xem xét rút ngắn giai đoạn II chuyển dạ bằng sinh thủ thuật vì sản phụ có thể khó thực hiện được việc rặn đẻ chủ động trong khi đeo khẩu trang.

- Nên mổ lấy thai trong trường hợp sốc nhiễm trùng, suy tạng cấp, hoặc suy thai (hoặc đình chỉ thai nếu hợp pháp, trước khi thai có thể sống). Mổ lấy thai lý tưởng nhất nên được thực hiện trong phòng mổ áp lực âm.

- Để bảo vệ đội ngũ nhân viên y tế, nên tránh sử dụng bồn sinh dưới nước trong bệnh viện do có bằng chứng về vi rút trong phân và không có khả năng sử dụng thiết bị bảo hộ thích hợp cho nhân viên y tế khi sinh dưới nước.

- Cả gây tê vùng và gây mê toàn thân đều có thể được xem xét, tùy thuộc vào tình trạng lâm sàng của bệnh nhân và sau khi tham khảo ý kiến của bác sỹ gây mê sản khoa, phù hợp với khuyến nghị của các hội gây mê sản khoa. Gây tê vùng được ưu tiên hơn khi đề cấp đến nguy cơ lây nhiễm cho nhân viên y tế. Cần tăng cường đồ bảo hộ cá nhân cho đội ngũ nhân viên y tế để tránh tiếp xúc với các giọt bắn trong không khí tạo ra do một số quy trình chẳng hạn như đặt nội khí quản (Hình 3: Lưu đồ 3). Đây là lý do tại sao hầu hết các đơn vị trên khắp thế giới cố gắng tránh sinh mổ dưới gây mê toàn thân nếu có thể. 

- Trong trường hợp chấm dứt thai kỳ đối với những trường hợp thai non tháng, chúng tôi khuyến cáo nên thận trọng khi sử dụng corticosteroid trước sinh để kích thích trưởng thành phổi thai nhi ở một số bệnh nhân nặng vì điều này có thể làm trầm trọng thêm tình trạng lâm sàng. Việc sử dụng steroid trước sinh nên được thảo luận với các bác sỹ chuyên khoa truyền nhiễm, bác sỹ y học bào thai và bác sỹ sơ sinh. Trong trường hợp một thai phụ bị nhiễm bệnh có biểu hiện chuyển dạ sinh non tự phát, không nên sử dụng thuốc giảm go để trì hoãn chuyển dạ nhằm mục đích dùng corticoid trưởng thành phổi thai nhi. 

- Phôi /thai bị sẩy và nhau thai của thai phụ nhiễm COVID-19 phải được coi là các mô lây nhiễm và cần phải được xử lý thích hợp; nếu có thể, nên tiến hành xét nghiệm các mô này để tìm SARS-CoV-2 bằng kỹ thuật qRT-PCR.


9. CHĂM SÓC SAU SINH VÀ SƠ SINH ĐỐI VỚI THAI PHỤ NGHI NGỜ HOẶC NHIỄM COVID-19 (LƯU ĐỒ 4)

- Về xử trí sơ sinh trong các trường hợp nghi nhiễm, có khả năng nhiễm hoặc đã được khẳng định là mẹ nhiễm COVID-19, cần phải kẹp dây rốn nhanh và chuyển trẻ đến khu vực hồi sức để được đánh giá bởi bác sỹ nhi khoa. Không có đủ bằng chứng về việc liệu việc kẹp dây rốn muộn có làm tăng nguy cơ lây nhiễm cho trẻ sơ sinh khi tiếp xúc trực tiếp hay không. Ở những đơn vị khuyến cáo kẹp rốn muộn, bác sỹ lâm sàng nên cân nhắc kỹ xem liệu có nên tiếp tục thực hành này hay không.

- Cần duy trì các biện pháp phòng ngừa phơi nhiễm và sử dụng đồ bảo hộ trong thời kỳ hậu sản cho đến khi người mẹ xét nghiệm âm tính với COVID-19.

- Hiện chưa có đủ bằng chứng liên quan đến sự an toàn của việc nuôi con bằng sữa mẹ và sự cần thiết phải tách mẹ / con. Nếu tình trạng người mẹ nặng, tách trẻ ra dường như là lựa chọn tốt nhất đồng thời nỗ lực vắt sữa mẹ để duy trì sản xuất sữa. Nên có máy hút sữa chuyên dụng và sau mỗi lần hút sữa phải rửa thật sạch dụng cụ theo khuyến cáo của nhà sản xuất. Nếu bệnh nhân không có triệu chứng hoặc có triệu chứng nhẹ, có thể cân nhắc việc cho con bú bằng sữa mẹ và cho trẻ nằm chung phòng với mẹ hoặc có thể nằm chung khi không đảm bảo cơ sở vật chất cho việc việc tách mẹ / con. Vì mối lo ngại chính là vi-rút có thể lây truyền qua các giọt bắn qua đường hô hấp hơn là sữa mẹ, các bà mẹ đang cho con bú nên rửa tay và đeo khẩu trang ba lớp trước khi chạm vào em bé. Khi nằm chung phòng nên giữ khoảng cách giưa nôi của trẻ và giường của mẹ ít nhất 2 mét và có thể sử dụng một rèm ngăn cách (Hình 4: Lưu đồ 4). Người mẹ có thể được yêu cầu vắt sữa mẹ, trong khi người khác cho em bé bú. 

- Phần lớn các cuộc thăm khám sau sinh có thể được tiến hành từ xa miễn là bệnh nhân không có những tình trạng khẩn cấp cần phải thăm khám trực tiếp. Một số thăm khám (vú, sẹo mổ ở bụng) có thể được đánh giá qua video hoặc hình ảnh. Việc giảm số lần khám bệnh cũng có thể có giá trị trong trường hợp thiếu nhân viên y tế vì có thể có một tỷ lệ đáng kể nhân viên y tế sẽ cần phải cách ly do phơi nhiễm với COVID-19. 

10. CAN THIỆP TÂM LÝ

- Phụ nữ mang thai có nhiều nguy cơ bị lo lắng và trầm cảm; một khi đã được xác định nghi nhiễm / có khả năng nhiễm / xác nhận nhiễm COVID-19, thai phụ có thể biểu hiện các triệu chứng tâm thần ở các mức độ khác nhau gây ảnh hưởng bất lợi cho sức khỏe mẹ và thai nhi.

 - Sự cách ly mẹ / con có thể cản trở sự gắn kết tình cảm cũng như ảnh hưởng đến quá trình tiết sữa. Những yếu tố này chắc chắn sẽ gây thêm căng thẳng cho sản phụ trong giai đoạn sau sinh.

 - Các bác sỹ nên chú ý đến sức khỏe tâm thần của bệnh nhân, bao gồm đánh giá kịp thời các  biểu hiện rối loạn giấc ngủ, lo âu trầm cảm, và thậm chí ý tưởng tự sát của họ. Bệnh nhân nên được tư vấn bác sỹ tâm thần khi cần thiết.

11. BIỆN PHÁP PHÒNG BỆNH

Hiện nay, không có loại thuốc hoặc vắc xin hiệu quả nào để ngăn ngừa COVID- 19. Vì vậy, việc bảo vệ cá nhân rất quan trọng để giảm thiểu nguy cơ lây nhiễm vi rút.

11.1 Đối với bệnh nhân và nhân viên y tế

- Giữ gìn vệ sinh cá nhân tốt: có ý thức tránh tiếp xúc gần với người khác trong giai đoạn đại dịch COVID-19; giảm bớt sự tham gia vào bất kỳ cuộc tụ tập nào mà không thể đảm bảo khoảng cách ít nhất 2 mét giữa các cá nhân; chú ý rửa tay và sử dụng dung dịch sát khuẩn (nồng độ cồn 60% –95%) thường xuyên.



-  Nên đeo khẩu trang kháng khuẩn ba lớp khi đến bệnh viện hoặc khu vực có nguy cơ lây nhiễm cao khác.

- Đến ngay cơ sở y tế để được chẩn đoán và điều trị kịp thời khi gặp các triệu chứng như sốt và ho.

11.2 Đối với nhân viên y tế

- Cung cấp thông tin giáo dục (tờ rơi, áp phích) trong các khu vực chờ đợi.

- Thiết lập kế hoạch phân luồng bệnh nhân để sàng lọc. Trong các đơn vị mà khu vực phân loại được thiết lập, nhân viên phải có đồ bảo hộ thích hợp và đảm bảo tuân thủ nghiêm ngặt việc vệ sinh tay.

• Tất cả thai phụ nhập viện và thăm khám ngoại trú nên được đánh giá và sàng lọc các triệu chứng và sự phơi nhiễm liên quan đến COVID-19.

• Thai phụ có phơi nhiễm COVID-19 và những người bị nhiễm COVID-19 nhẹ hoặc không có triệu chứng nên trì hoãn khám thai 14 ngày.

• Giảm số lượng người thăm bệnh

• Khi đến các khu vực phân loại bệnh ban đầu, thai phụ có triệu chứng và / hoặc đã biết phơi nhiễm với COVID-19 nên được đưa vào phòng cách ly để đánh giá thêm.

• Nhân viên y tế đang chăm sóc bệnh nhân nghi nhiễm / có khả năng nhiễm/ xác nhận nhiễm COVID-19 cần được theo dõi chặt chẽ triệu chứng sốt hoặc các dấu hiệu nhiễm trùng khác và không nên tiếp tục làm việc nếu họ có bất kỳ triệu chứng COVID-19 nào. Các triệu chứng thường gặp khi khởi bệnh bao gồm sốt, ho khan, đau cơ, mệt mỏi và khó thở. Nhân viên y tế được phân công chăm sóc bệnh nhân nghi nhiễm / có khả năng nhiễm/ xác nhận nhiễm COVID-19 nên giảm thiểu tối đa việc tiếp xúc với các bệnh nhân và đồng nghiệp khác, nhằm mục đích giảm nguy cơ phơi nhiễm và khả năng lây truyền bệnh.

•  Nhân viên y tế tiếp xúc với thai phụ nhiễm COVID-19  mà không có đồ bảo hộ thích hợp nên được cách ly hoặc tự cách ly trong 14 ngày.

• Các nhân viên y tế chăm sóc sức khỏe thai phụ nên tuân theo các hướng dẫn đánh giá nguy cơ và kiểm soát lây nhiễm sau khi tiếp xúc với bệnh nhân nghi nhiễm / có khả năng nhiễm/ xác nhận nhiễm COVID-19.

12. QUẢN LÝ VẬT LIỆU SINH HỌC GÂY HẠI

Các biện pháp dự phòng liên quan đến phơi nhiễm các vật liệu sinh học độc hại bao gồm:

- Trang bị các vật tư và thiết bị dùng một lần cho bệnh nhân.

-  Không sử dụng vật dụng có sắc nhọn

- Sát khuẩn tay đúng cách.

- Các biện pháp phòng lây truyền tiêu chuẩn và đặc hiệu.

- Các thùng và túi đựng chất thải sinh học màu đỏ.

- Sử dụng đồ bảo hộ thích hợp.

- Sử dụng vùng đệm trong các khu vực phẫu thuật và các khu vực khác nơi thực hiện các thủ thuật xâm lấn.

- Xử lý an toàn vật sắc nhọn không chỉ tại các cơ sở y tế mà còn tại nhà của thai phụ và các khu vực lân cận của họ.

- Quy trình xử lý vật liệu sinh học gây hại không sắc bén với việc phân loại và đựng chất thải lây nhiễm trong các thùng chứa được dán nhãn rõ ràng, chống rò rỉ, chống thủng, tiếp theo là thu gom để khử trùng bằng phương pháp hấp, đốt, chôn, công nghệ năng lượng hoặc thu thập và xử lý bởi một dịch vụ bảo vệ môi trường và an toàn sinh học.

13. Những điểm chính cần lưu ý

- Phụ nữ mang thai bị nhiễm COVID-19 nên được chăm sóc và điều trị ở các bệnh viện cấp tỉnh trở lên và cần được tư vấn về nguy cơ của các kết quả bất lợi cho thai kỳ.

- Cần thiết lập các phòng cách ly áp lực âm để đảm bảo an toàn khi chuyển dạ sinh và chăm sóc trẻ sơ sinh. Điều này có thể không thực hiện được ở cơ sở y tế nguồn lực thấp nhưng tất cả các nỗ lực nên được thực hiện để cách ly và kiểm soát lây nhiễm.

- Trong giai đoạn đại dịch COVID-19, tiền sử chi tiết về phơi nhiễm liên quan đến COVID-19 và các biểu hiện lâm sàng nên được thu thập thường quy đối với tất cả thai phụ đến khám định kỳ.

- Chụp CT ngực nên được bao gồm trong quy trình thăm khám thai phụ có nghi nhiễm / có khả năng nhiễm/ đã xác nhận nhiễm COVID-19.

- Các trường hợp nghi nhiễm / có khả năng nhiễm nên được điều trị cách ly và các trường hợp đã xác nhận nhiễm nên được điều trị trong phòng cách ly áp lực âm. Một thai phụ nhiễm bệnh nặng nên được đưa vào phòng cách ly áp lực âm tại khoa hồi sức tích cực.

- Khám thai và đỡ đẻ cho sản phụ nhiễm COVID-19 nên được thực hiện trong phòng cách ly áp lực âm tại khoa sinh. Hạn chế đi lại tại khu vực có bệnh nhân bị nhiễm bệnh.

- Tất cả nhân viên y tế tham gia chăm sóc thai phụ bị nhiễm bệnh phải mặc đồ bảo hộ phù hợp theo yêu cầu.

- Việc điều trị thai phụ nhiễm COVID-19 cần được đảm nhận bởi một nhóm đa chuyên khoa (bác sỹ sản khoa, bác sỹ y học bào thai, bác sỹ hồi sức bác sỹ gây mê sản khoa, bác sỹ nội khoa hoặc hô hấp, nữ hộ sinh, bác sỹ vi sinh, bác sỹ sơ sinh, bác sỹ chuyên khoa truyền nhiễm).

- Thời điểm và phương thức sinh phải được cá nhân hóa, phụ thuộc chủ yếu vào tình trạng lâm sàng của bệnh nhân, tuổi thai và tình trạng thai nhi.

- Hiện tại, dữ liệu hạn chế cho thấy không có bằng chứng về sự lây truyền từ mẹ sang con ở những thai nhiễm COVID-19 vào cuối thai kỳ.

- Hiện không có đủ bằng chứng về sự an toàn của việc nuôi con bằng sữa mẹ và sự cần thiết phải tách mẹ / con. Nếu người mẹ bị bệnh nặng hoặc nguy kịch, cách ly là lựa chọn tốt nhất, với những nỗ lực vắt sữa mẹ để duy trì sản xuất sữa. Nếu bệnh nhân không có triệu chứng hoặc có triệu chứng nhẹ, người mẹ có thể cân nhắc việc cho con bú và nằm chung phòng với trẻ. 

- Các chuyên gia y tế tham gia chăm sóc sản khoa cần được đào tạo và huấn luyện về việc sử dụng mặt nạ phòng hộ đúng cách.

 

Tài khoản



Thăm dò ý kiến

Bạn biết đến Bệnh viện chúng tôi qua phương tiện nào?
 
mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay426
mod_vvisit_counterHôm qua1341
mod_vvisit_counterTuần này10375
mod_vvisit_counterTuần trước13604
mod_vvisit_counterTháng này35819
mod_vvisit_counterTháng trước42669
mod_vvisit_counterTổng cộng1832455

Đang online

Hiện có 13 khách Trực tuyến


QUY TRÌNH KHÁM CHỮA BỆNH


Sơ đồ vị trí


Xem Bản đồ cỡ lớn hơn



Hình ảnh bệnh viện


Chính sách bảo mật